Đông Dược Việt >> Cây thuốc >> LÚA, GẠO, CƠM CŨNG LÀ NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ

LÚA, GẠO, CƠM CŨNG LÀ NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ

LÚA, GẠO, CƠM CŨNG LÀ NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ

LÚA, GẠO, CƠM CŨNG LÀ NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ

 

Lúa gạo là lương thực chính của nhân dân Việt Nam và của hàng tỷ người châu Á và thế giới. Lúa gạo còn là những vị thuốc quý, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa. Lúa gạo cũng được áp dụng để cuộc sống tốt hơn.

Lúa gạo là cây lương thực chính của nước ta. Ngày xưa từ thời vua Hùng, người dân Lạc Việt đã biết gói và thưởng thức bánh chưng; người xưa đã biết nấu cơm lam là điển hình độc đáo của nhân dân ta. Qua quá trình sản xuất và tiêu dùng, người xưa để lại hàng trăm giống lúa trong đó có những giống lúa rất thơm, ngon, dẻo như Nếp cái hoa vàng, Nếp bắc, Nếp con, Nếp cẩm, Tám trắng, Dự hương, Dự thơm, Dự cánh, Dự vàng, Nàng thơm, Nàng thơm chợ Đào, Nàng thơm Bình Chánh, Nàng hương Thanh Trà, Nàng hương trắng…

Mấy chục năm gần đây, nước ta đã nhập rất nhiều giống lúa của Viện Lúa quốc tế và của các nước, các nhà khoa học đã bình tuyển chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa tốt.

Sản xuất lúa gạo nước ta đã thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng trong nước và mỗi năm còn xuất khẩu được 4 – 5 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.

MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHÍNH

  • Các chỉ tiêu cơ lý hạt lúa: Các giống lúa đặc sản cổ truyền miền Bắc đều có hương thơm và hạt nhỏ hơn các giống lúa đặc sản miền Nam. Các giống lúa mới trồng ở miền Bắc có tỷ lệ bạc bụng nhiều hơn các giống lúa mới trồng ở miền Nam, nhưng các giống lúa mới trồng ở miền Nam đều có hạt dài, thơm và có độ trắng cao. Vì vậy, có nhiều giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
  • Hàm lượng protein: Protein biến thiên rất rộng từ 5,29 – 12,84% trong hạt gạo Việt Nam (trong gạo nếp cao hơn gạo tẻ, gạo lúa chiêm cao hơn gạo giống khác).
  • Hàm lượng amilose: Các giống lúa đặc sản Việt Nam như các giống Tám, Dự, Di, Gié… đều có hàm lượng amilose trung bình. Do đó, cơm mềm, dẻo, bóng, để nguội không bị cứng. Các giống lúa có hàm lượng amilose cao như OM – 723 – 11 (28,3%), VN – 92 – 3 (27,3%) đều cho cơm cứng, cơm nguội thường bị rời cứng.
  • Nhiệt độ hóa hồ: Nhiệt độ hóa hồ có ảnh hưởng đến chất lượng nấu nướng. Các giống lúa nước ta nhất là các giống lúa Tám đều có nhiệt độ hóa hồ thấp hoặc trung bình (70ºC – 74ºC). Các giống lúa chiêm và nhiều giống lúa mới lại có nhiệt độ hóa hồ cao. Vì chất lượng nấu nướng của gạo mùa cao hơn gạo chiêm và gạo các giống mới. Trên thế giới, các loại gạo có nhiệt độ hóa hồ thấp được đánh giá cao hơn là gạo có nhiệt độ hóa hồ cao.
  • Độ thơm của cơm: Các giống lúa đặc sản miền Bắc đều cho cơm thơm hơn các giống lúa đặc sản miền Nam. Giống lúa Tám thơm miền Bắc là giống lúa thơm nhất trong các giống lúa đặc sản miền Bắc, còn Nàng thơm chợ Đào là giống thơm nhất trong các giống lúa đặc sản miền Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống lúa Tám đều có chất lượng cơm rất tốt, tương tự như hai giống IR36 và IR64 của Viện nghiên cứu Lúa quốc tế có chất lượng cơm rất tốt (theo Các loại thực phẩm thuốc và thực phẩm chức năng ở Việt Nam).

LÚA GẠO LÀM THUỐC

Đông y rất chú ý nghiên cứu dùng lúa gạo làm thuốc. Lương y Phan Tấn Tô đã nghiên cứu sưu tầm được nhiều bài thuốc dùng lúa, gạo, cơm làm thuốc bổ dưỡng sức khỏe, thuốc trị bệnh. Theo lương y, lúa gạo tẻ, gạo nếp và những chế phẩm của chúng đều có thể làm thuốc.

Gạo tẻ (còn gọi là ngạnh mễ) vị ngọt, tính bình, làm cho khỏi khát, tiêu đàm, cầm ỉa, làm thuốc bổ dưỡng khí huyết. Ngày dùng 20 – 30g hoặc nhiều hơn.

Gạo nếp có vị ngọt, tính ấm, làm ấm bụng, mạnh tỳ, bổ phế thận, trị ói mửa, tỳ vị hư yếu, đau dạ dầy, tiểu tiện ra chất nhờn. Ngày dùng 12 – 20g hoặc nhiều hơn.

Gạo lâu năm (còn gọi là trần mễ) gạo càng để lâu năm càng tốt. Gạo này vị chua mặn, tính ấm, không độc, có tác dụng nuôi dưỡng vị khí, tiêu thực, trừ phiền khát, chữa đầy tức, cầm tả lỵ. Ngày dùng 12 – 30g hoặc nhiều hơn.

Các nhà dược học Mỹ cũng dùng gạo rang chữa tiêu chảy. Gạo rang cháy tán thành bột pha chè uống thay nước. Hội Dược lý Mỹ dùng cám gạo cho da đẹp…, dùng cám gạo bọc trong lớp vải mịn, chà xát lên da thay xà phòng hoặc dùng cám gạo làm nẹp cố định xương gẫy (theo Rau hoa quả chữa bệnh).

Dưới đây là những bài thuốc trích từ sách Chữa bệnh bằng thức ăn thông thường của LY.Phan Tấn Tô:

BÀI THUỐC TỪ CƠM GẠO TẺ

1. Ỉa lỏng khát nước: Gạo tẻ 20 – 30g, rang cháy đen các hạt dính nhau. Dùng nước sôi pha như pha chè uống hoặc sau khi rang cháy, thêm 1,5 lít nước sắc uống. Vừa có tác dụng cầm ỉa, vừa tiêu thức ăn tích tụ, hết trướng bụng.

2. Hoắc loạn, thổ tả, phiền khát, người mệt lả, bệnh nguy cấp: Gạo tẻ 20g sao, tán mịn, nước vòi măng tre 10g (giã nát vắt lấy nước). Hai thứ hòa chung với một chén nước sôi, để nguội uống từng hớp.

3. Đờm nhiều sinh suyễn: Dùng tỏi giã nát với bột gạo tẻ, làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 8 – 10 viên với nước muối, nấu sôi để nguội, uống vào lúc đói bụng. Ngày 3 – 4 lần.

4. Mồ hôi ra không ngừng: Gạo tẻ trắng, tán mịn, bỏ vào túi vải, xát luôn, sẽ đỡ dần rồi lành.

5. Ăn vào mửa ra, thổ ra: Gạo lâu năm, nấu nước uống từng muỗng nhỏ, cách 10 – 15 phút uống một lần.

6. Trẻ em đi tướt: Gạo lâu năm sao thật vàng 30 – 40g, Gừng tươi 2g thêm vào 3 bát nước, nấu cháo cho ăn, có thể lọc nước cho uống. Nếu trẻ đi tướt vì nhiệt (môi đỏ hồng, khát nước, đít nóng đỏ) thì chỉ dùng gạo không sao.

7. Động thai ra huyết: Trứng gà 2 quả, luộc hồng đào, trộn đều bột gạo tẻ, ăn.

BÀI THUỐC TỪ CƠM GẠO NẾP

1. Bệnh lỵ cấm khẩu: Lúa nếp 80g sao giòn nở đều, nhặt bỏ trấu, rưới nước vừa ẩm, trộn đều. Sao lại lần hai cho giòn, tán mịn. Mỗi lần dùng một thìa canh bột hòa với nước uống, ngày vài lần.

2. Ụa mửa ra nước chua: Gạo nếp 12g sao vàng, Gừng tươi 5 lát sắc với 1,5 bát nước để còn một nửa. Uống từng hớp một. Thang này còn dùng để chữa thương hàn, mình nóng sốt, nôn ọe kèm theo nhiều chứng nguy cấp.

3. Tỳ vị hư yếu, ỉa lỏng lâu ngày: Gạo nếp 40g (ngâm nước một đêm, phơi khô, sao vàng), Hoài sơn 40g, Hồ tiêu 20g tán mịn, trộn đều. Mỗi lần dùng 10g, hòa nước đường uống, ngày 3 lần.

4. Hoắc loạn, thổ tả, nguy cấp: Gạo nếp 12g, Gừng tươi 3 lát. Giã nát gạo hòa thêm ít nước, lọc bỏ bã uống dần.

5. Trẻ ho ra máu: Gạo nếp 24g, Rễ dâu 40g, sao vàng tán mịn, mỗi lần dùng 6g, uống với nước cơm mỗi ngày 3 lần.

6. Trẻ mới đẻ hay bị ọc sữa: Gạo nếp 10 hạt (sao đen), nước 12ml, sữa 12ml cho vào chén đun cách thủy, uống dần.

7. Đau dạ dày: Ăn cơm nếp nấu nhão hàng ngày.

8. Lao tâm thổ huyết: Gạo nếp 20g, Tim sen 7 cái, tán mịn, thêm chút rượu uống.

9. Thiếu sữa: Gạo nếp 40g, Nõn dứa gai 80g, thêm 3 lát Gừng, nấu cháo, bỏ Nõn dứa, ăn cháo.

10. Vú sưng đau nhức: Gạo nếp 40g, Cam thảo 10g, nấu nước uống trong ngày, có thể dùng lá Bồ công anh giã nát đắp bên ngoài vú.

TRƯỜNG AN (CTQ số 108)

 

 

Nguồn: http://caythuocquy.info.vn/LUA-GẠO-CƠM-CŨNG-LA-NHỮNG-VỊ-THUỐC-QUY-1592.html