Đông Dược Việt >> Sức khoẻ gia đình >> Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên

Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên

() – Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên – superior mesenteric artery syndrome (SMA) là bệnh lý do bất thường vị trí hệ thống mạch máu ổ bụng. Bệnh đặc trưng bởi sự chèn ép đoạn thứ ba của tá tràng, giữa động mạch chủ bụng và động mạch mạc treo tràng trên đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Bất thường vị trí động mạch gây hội chứng SMA

Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên, còn gọi là hội chứng Wilkie, hội chứng rễ mạc treo ruột, tắc ruột tá tràng mạn tính và tắc mạch mạc treo gián đoạn. Do bất thường về vị trí mạch máu ổ bụng, gây tắc nghẽn toàn bộ hoặc một phần tá tràng cấp tính, mạn tính, hay không liên tục.

Bình thường động mạch mạc treo tràng trên tạo thành một góc khoảng 45 độ (từ 38 – 56 độ) với động mạch chủ bụng và phần thứ ba của tá tràng đi qua gốc của động mạch mạc treo tràng trên, chạy giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ. Bởi vậy, bất kỳ yếu tố nào thu hẹp góc giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ khoảng 6 – 25 độ thì có thể tạo ra một cái bẫy kẹp và nén đoạn thứ ba của tá tràng, dẫn đến hội chứng động mạch mạc treo tràng trên.

 

Hi chng ng mch mc treo trng trn - Ai d mc? 1

 Động mạch mạc treo tràng trên bất thường trên phim chụp cắt lớp ổ bụng.

Ngoài ra, khoảng cách giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ trong hội chứng động mạch mạc treo tràng trên giảm xuống còn 2 – 8mm so với bình thường là 10 – 20mm. Mô mỡ sau phúc mạc và các mô bạch huyết có tác dụng như là một mô đệm cho tá tràng, bảo vệ nó khỏi sự đè nén bởi SMA. Vì vậy, hội chứng SMA xảy ra khi có một số điều kiện như: lớp mô đệm mỏng hay góc mạc treo ruột hẹp. Hội chứng SMA có hai loại: bẩm sinh mạn tính hay cấp tính/cảm ứng kích thích.

Bệnh nhân bẩm sinh mạn tính, biểu hiện trong một khoảng thời gian dài hoặc suốt đời với nhiều đợt trầm trọng hơn nhưng không liên tục, phụ thuộc vào mức độ bị đè nén của tá tràng. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: thể trạng người gầy, cao lêu nghêu, dây chằng treo góc tá – hỗng tràng cao bất thường; vận động của đường tiêu hóa kém, khối u sau phúc mạc, chán ăn, kém hấp thu, suy kiệt, tật xương sống cong ra trước, đốt sống thắt lưng phì đại, thoát vị, lỏng lẻo thành bụng, dính màng bụng, bụng chấn thương, sụt cân, đói và các tình trạng như ung thư và bỏng.

Bệnh nhân cấp tính, các triệu chứng của hội chứng SMA tiến triển nhanh chóng sau sự cố chấn thương,  bắt buộc mở rộng mạch mạc treo ruột non ngang qua tá tràng, vì thế gây nên tắc nghẽn. Nguyên nhân thường do: nằm nghỉ ngơi kéo dài, chấn thương cột sống, vẹo cột sống, phẫu thuật vẹo cột sống hoặc cắt bỏ thận trái.

Biểu hiện bệnh

Hội chứng bao gồm các triệu chứng: cảm giác no sớm, buồn nôn, nôn mửa, đau như dao đâm ngay sau khi ăn do tá tràng bị đè nén và phải tăng nhu động để đền bù, chướng bụng hay bụng biến dạng, ợ hơi, đau bụng, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng nặng, không tăng cân, thể trạng gầy yếu, gù vẹo cột sống, ưỡn cột sống, giảm chất béo trong cơ thể, hạch bạch huyết phì đại, có khối u sau phúc mạc.

Bệnh tạo thành một vòng luẩn quẩn. Chán ăn là dấu hiệu phổ biến ở các bệnh nhân bị hội chứng SMA mạn tính. Các triệu chứng thường thuyên giảm khi bệnh nhân nằm nghiêng bên trái. Ngược lại, các triệu chứng thường trầm trọng hơn nằm khi nghiêng bên phải hoặc nằm ngửa. 

Chẩn đoán hội chứng SMA được xác định sau khi nội soi, nội soi đại tràng, chụp Xquang, chụp cắt lớp ổ bụng và vùng chậu; siêu âm và chụp động mạch tương phản.

Các biến chứng

Hội chứng SMA có tỷ lệ tử vong khoảng 1/3. Nếu chậm trễ trong chẩn đoán hội chứng SMA có thể dẫn đến suy dinh dưỡng cấp gây tử vong, mất nước, thiểu niệu, bất thường điện giải, hạ kali máu, vỡ dạ dày cấp tính hoặc thủng ruột do thiếu máu mạc treo tràng trên kéo dài, giãn dạ dày, xuất huyết tiêu hóa ở đường tiêu hóa trên, sốc giảm lưu lượng máu, viêm phổi sặc, trụy tim mạch đột ngột do tăng tốc độ của dòng máu chảy trong SMA bởi góc mạc treo giảm. Vì vậy, việc hiểu biết về hội chứng này giúp ích rất nhiều cho công tác phát hiện và điều trị kịp thời cứu sống bệnh nhân.

Hi chng ng mch mc treo trng trn - Ai d mc? 2

 Giải phẫu động mạch mạc treo tràng trên.

Phương pháp điều trị

Hầu hết bệnh cấp tính thường được điều trị bảo tồn, trong khi các trường hợp mạn tính đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật. Trong trường hợp cấp tính hay bệnh nhẹ, điều trị bảo tồn được ưu tiên hàng đầu như thay đổi hoàn toàn hoặc loại bỏ các yếu tố gây lắng đọng, ngưng kết với các chất dinh dưỡng.

 

Thay thế chất lỏng và chất điện giải bằng ống cho ăn qua hỗng tràng, đặt nội khí quản thông mũi dạ dày, ống thông để kiểm soát lượng dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa. Thuốc nhuận tràng cũng có thể được dùng vì có tác dụng tốt. Các triệu chứng thường cải thiện sau khi khôi phục lại trọng lượng, trừ trường hợp lớp mỡ được khôi phục không tích tụ trong góc mạc treo.

Các bệnh nhân điều trị bảo tồn thất bại, hoặc đối với trường hợp bệnh nặng hoặc mạn tính, phải phẫu thuật để điều trị. Phương pháp thường dùng nhất cho hội chứng SMA là mở thông tá tràng – hỗng tràng. Khi thực hiện phẫu thuật mở thông tá tràng – hỗng tràng là tạo ra một đoạn nối giữa tá tràng và hỗng tràng, bỏ qua đoạn bị nén gây ra bởi động mạch chủ bụng và động mạch mạc treo tràng trên. Phương pháp điều trị phẫu thuật ít sử dụng hơn là Rouxen Y mở thông tá – hỗng tràng, nối vị – tràng.         

ThS. Trần Quốc An

Nguồn: http://suckhoedoisong.vn/20121220102419177p44c114/hoi-chung-dong-mach-mac-treo-trang-tren-ai-de-mac.htm